Một cách bình dân khi ta nói về chữ nghĩa tức là nói về ngôn ngữ viết. Khi một được dùng để diễn tả bằng âm thanh tức là khi ta phát âm ra một chữ, một câu nào thì đó là ngôn ngữ nói. Cả hai thứ ngôn ngữ nầy đều không do ai làm chủ, mà mỗi người hầu như ai cũng có vậy là tại sao?
Từ khi con người mới lọt lòng mẹ, không ai có một thứ ngôn ngữ nào ngoài tiếng khóc oe oe! Tiếng khóc nầy có thể gọi là cái vốn liếng ngôn ngữ đầu tiên của con người, dù là người đó là Việt Nam hay bất cứ sác dân nào cũng vậy. Truy tầm ra cái ngôn ngữ đầu tiên của con người rất phức tạp, vượt ngoài khả năng của người viết và cũng ngoài phạm vi của bài nầy, nên tôi xin không đề cập tới ở đây, mà chỉ bàn về các đặc tính rất lý thú của ngôn ngữ bao gồm ngôn ngữ nói và viết để ít ra biết được cái vốn liếng ngôn ngữ của con người do đâu mà có, và để từ đó ta không chủ quan khi dùng ngôn ngữ, ta không tức giận khi bị người khác phê bình về cách viết, cách nói của mình, đồng thời cũng không tranh cãi về cách viết, cách nói của người khác bởi vì ngôn ngữ không phải là của riêng ai cả!
Kho tàng ngôn ngữ của mỗi người được kết tụ trong tiến trình sinh hoạt đời sống cá nhân. Tuỳ theo sở thích, lãnh vực chuyên môn, và thời gian trưởng thành mỗi người có một số vốn liếng ngôn ngữ khác nhau, do đó họ có khả năng viết và nói khác nhau.
Một người thích về âm nhạc thì biết nhiều về âm nhạc, một người nghiên cứu về thuốc men thì biết nhiều ngôn ngữ về thuốc men, những người có chuyên môn khác thì biết nhiều ngôn ngữ về cái chuyên môn của mình.
Nếu chúng ta chịu khó suy gẫm một chút thì không thể nào chối cãi được là từ thuở sơ sinh không ai biết nói, biết viết gì nhiều. Khởi đầu ta học từ tiếng nói của mẹ, của cha và của những người tiếp cận chung quanh mình trong sinh hoạt đời sống hàng ngày. Khi lớn lên tới tuổi cấp sách đến trường thì mới bắt đầu học viết, tức là học cách diẽn tả ngôn ngữ nói bằng chữ viết. Như vậy ngôn ngữ viết có sau ngôn ngữ viết. Từ khi học viết từ cấp vỡ lòng cho đến khi biết viết các loại bài báo cáo, tường thuật, bình luận, văn thơ, ta trải qua một tiến trình học tập, phát triển rất dài tuỳ theo mỗi người trong mỗi hoàn cảnh khác nhau.
Nền giáo dục ngày nay rất tân tiến, đã đào tạo con người có những kiến thức chuyên môn áp dụng trong nhiều khía cạnh của đời sống, trong đó có kiến thức về văn chương, ngôn ngữ. Ngày nay tại các quốc gia tân tiến, các trườnh đại học có nhiều khoá huấn luyện, trung bình từ 3 năm cho tới 6, 7 năm tuỳ theo ngành chuyên môn. Về văn chương, chữ nghĩa thì có các khoá học về viết lách, làm báo, hay sâu hơn là về ngôn ngữ.
Tiến trình học tập của mỗi người mỗi khác tuỳ theo khoá học chuyên môn, nhưng ai cũng được luyện tập dưới sự hướng dẫn của thầy cộ giáo. Họ chính là những người đã đóng góp rất nhiều cho ta có được cái vốn liếng ngôn ngữ được tạm gọi là thuộc loại bác học để phân biệt với loại ngôn ngữ bình dân của người không có học nhiều ở trường lớp đàng hoàng.
Ở đây khi chúng ta đề cập tới chữ nghĩa tức là đề cập tới loại văn chương bác học thì tiến trình luyện tập của mỗi người chắc cũng phải trải qua nhiều gian lao lắm. Điển hình nhất, đối với người có cấp cử nhân, hay cao học thì bài luận án để đúc kết khoá học có thể lên tới vài chục ngàn chữ. Số lượng chữ nghĩa nầy đã được quí vị giảng sư chủ nhiệm sữa chữa, từng chữ từng câu để bảo đảm chất lượng đạt đúng tiêu chuẩn của chương trình giáo dục khoa bản ngày nay. Đối với cấp tiến sĩ thì bài luận án có thể lên tới 100,000 chữ và thời gian luyện tập để đúc kết từng phần có thể kéo dài tới 5 năm. Chúng ta thử tưởng tượng cái tiến trình học tập với sự hướng dẫn của các thầy cô chủ nhiệm để giúp các học viên chọn lựa từng chữ, từng câu thích hợp như vậy không phải là chuyện đơn giản để cuối cùng người học có được một số vốn liếng chữ nghĩa, và nhìn lại thì những gì họ có vẫn chỉ là vay mượn của người khác mà thôi!
Nói như vậy để chúng ta nhìn nhận một điều là chữ nghĩa không phải là của riêng ai. Chúng ta học từ mọi người tiếp cận chung quang, từ sách vở, từ phim ảnh, âm nhạc, thơ văn. Tuỳ theo môi trường tiếp cận mà ta học được loại chữ nghĩa liên hệ.
Nói như vậy để chúng ta không chủ quan khi dùng ngôn ngữ, và cũng không tranh cãi về cách dùng ngôn ngữ của người khác, nhưng dĩ nhiên chúng ta có quyền phê phán, khen chê tuỳ theo khả năng, sở thích của mỗi người. Sự khen chê, phê phán nầy vẫn chỉ có giá trị cho riêng mình mà thôi. Trong ngôn ngữ học người ta nói ‘không có cái gì là đúng hay sai’, bởi vì ngôn ngữ là sản phẩm trí tuệ của mỗi người chế ra với các thành phần cấu tạo được cung cấp bởi người khác. Nếu chúng ta có đủ thận trọng thì cần nên dè đặt khi phê phán hay dùng chữ ‘đúng, sai’, bởi vì mọi sự kiện chỉ đúng hay sai dựa vào một căn bản nào đó. Điều ‘đúng’ với một người có thể là ‘sai’ đối với một người khác! Vậy thì hai chữ ‘đúng, sai’ chỉ để dùng trong sự phê phán của cá nhân, nó không nhất thiết áp dụng thích hợp với người khác.
Hai chữ ‘đúng, sai’ chẳng những chỉ áp dụng cho ngôn ngữ thôi mà có thể áp dụng cho hành động của con người, bởi vì hành động cũng là một loại ‘sản phẩm’ của trí tuệ, tức là hệ quả của sự nghĩ hay sự sai khiến của trí óc con người. Ta không biết được một cách trung thực về hoạt động trí tuệ của người khác khiến họ có những hành động thế nầy, thế nọ; cho nên ta chỉ phỏng đoán, hay suy luận khi nhận xét hành động của người khác mà thôi, chớ không thể nào quả quyết như thật được!
Sau khi đọc bài nầy, chắc có người giựt mình khi duyệt lại các loạt bài bình luận, phê phán trên báo chí về một đề tài nóng bỏng nào đó bởi người ta thường dùng chữ ‘đúng, sai’ mà quên rằng nó không có giá trị gì nhiều đối với người khác cả!
Last Updated on Tuesday, 07 October 2008 17:19